U buồng trứng là các khối u của buồng trứng gặp ở phụ nữ mọi lứa tuổi, bao gồm u nguyên phát (dạng đặc hoặc dạng nang) và u thứ phát do di căn từ xa đến buồng trứng.
U buồng trứng có thể tiến triển rất nhanh nếu là u ác tính.
U dạng nang được phân ra 2 loại
1.U nang buồng trứng cơ năng
Thường là những nang nhỏ, đường kính dưới 5-6 cm, thường tồn tại trong một vài chu kỳ kinh. Các loại nang cơ năng bao gồm:
– Nang bọc noãn: do nang De Graaf không vỡ vào ngày phóng noãn.
– Nang hoàng tuyến: thường gặp trong chửa trứng, ung thư nguyên bào nuôi hoặc quá kích buồng trứng ở người bệnh vô sinh.
– Nang hoàng thể.
2.U nang buồng trứng thực thể
Phần lớn nang lành tính, tuy nhiên vẫn có khả năng ác tính.
Tùy thuộc vào bản chất trong nang, u nang buồng trứng thực thể có các loại sau:
– U nang thanh dịch (dịch trong): tỷ lệ ác tính 20-25%.
– U nang nhầy: thường có nhiều thuỳ chứa dịch nhầy đặc, kích thước thường to nhất trong các u buồng trứng. Tỷ lệ ác tính dưới 20%.
– U nang bì: còn gọi là u quái (teratoma), chứa các mô như răng, lông tóc, bã đậu. Nang bì thường lành tính nhưng cũng có thể trở thành ác tính, tỷ lệ ác tính 1-5%. Hay được phát hiện ở lứa tuổi 20-30 tuổi.
– U lạc nội mạc tử cung: thường gây thống kinh (đau bụng khi hành kinh), thường khó có thai.
U đặc và u hỗn hợp:
Tỷ lệ ác tính cao hơn u dạng nang. U hỗn hợp là u vừa có thành phần nang lẫn đặc.
U buồng trứng có triệu chứng như thế nào?
Người bệnh cảm thấy nặng hoặc đau tức vùng chậu, hoặc thấy bụng to ra; nhiều trường hợp không có triệu chứng gì.
U buồng trứng có thể gây ra các biến chứng sau:
– Xoắn nang: trên bệnh nhân có u buồng trứng đã được chẩn đoán trước đó hay chưa được chẩn đoán, bệnh nhân đột nhiên đau bụng đột ngột. Nếu không được mổ kịp thời sẽ dẫn đến vỡ nang.
– Khối u chèn ép các tạng trong tiểu khung gây đau bụng, đái khó.
– Xuất huyết trong nang.
– Ung thư hóa.
Đối với thai kỳ: U buồng trứng được chẩn đoán qua khám thai định kỳ hoặc qua siêu âm. Có thể gặp bất kỳ loại nang nào nhưng ít khi gặp nang ác tính. Nếu xoắn nang phải phẫu thuật cấp cứu, nếu không xoắn thì phẫu thuật vào đầu quý II của thai kỳ hoặc sau sinh. Quá trình mang thai và chuyển dạ u nang có thể gây sẩy thai, đẻ non, u tiền đạo, ngôi bất thường.
Khi bị u nang buồng trứng cần xử trí như thế nào?
Đối với u nang buồng trứng cơ năng: theo dõi, tái khám sau 3-6 tháng.
Còn u nang buồng trứng thực thể: tùy theo bản chất khối u, độ tuổi, nhu cầu sinh sản để có phương pháp phẫu thuật tương ứng. Nếu u lạc nội mạc tử cung: tùy vào triệu chứng có hay không và mục đích điều trị là gì để chọn phương pháp điều trị nội khoa hay phẫu thuật.
Trường hợp nghi ngờ ác tính cần xét nghiệm mô bệnh học để xác định bản chất và lấy máu bệnh nhân định lượng các chất chỉ điểm sinh học khối u.

0982 107 595